Nguyễn Thúy Hà

Giới thiệu về bản thân

Welcom to my home
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (2 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật Lê Tương Dực trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: 

+ HS phân tích những nét đặc sắc về nhân vật Lê Tương Dực: 

   ++ Là hôn quân, chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, bỏ bê dân chúng. Điều này được thể hiện qua những chi tiết: Vua bắt Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài không phải là vì đất nước, mà chỉ vì ham muốn cá nhân; vua quan ra sức tăng thuế nhưng không chăm lo đời sống của nhân dân, mặc kệ nhân dân điêu đứng vì giặc cỏ, đói khát; vua vịn cớ lo việc Cửu Trùng Đài mà đẩy hết việc nước cho các quan.

   ++ Là vị vua nhu nhược, chấp mê bất ngộ. Khi Trịnh Duy Sản ra sức can gián, nói rõ sự tình ngoài cung với vua, vua đã tỏ rõ sự chán chường, ghét bỏ và cuối cùng là tức giận tới mức rút kiếm chỉ trực giết chết Quận công Trịnh Duy Sản. 

+ HS nhận xét, đánh giá về nhân vật: Phê phán thái độ, hành động của Lê Tương Dực đối với việc trị nước: Bỏ bê, chủ quan, không chăm lo cho nhân dân khi nhân dân đói khổ, lầm than; ra sức vơ vét của dân; nhu nhược, bỏ ngoài tai lời khuyên ngăn của trung thần. 


d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.


Câu 2. (4 điểm)

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài

Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Bệnh vô cảm của giới trẻ hiện nay. 

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:

– Giải thích vấn đề nghị luận.

– Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau: 

– Thực trạng của vấn đề: Bệnh vô cảm xuất hiện ngày càng nhiều trong giới trẻ. (HS trích dẫn số liệu, dẫn chứng cụ thể về căn bệnh này).

– Biểu hiện: Thờ ơ, vô cảm với mọi người xung quanh.

– Nguyên nhân:

+ Sự ích kỉ cá nhân. 

+ Sự phát triển về mặt khoa học, công nghệ khiến cho con người ngày một thu hẹp không gian sống của mình lại, hầu như chỉ xoay quanh chiếc điện thoại, máy tính, dẫn đến sự đứt gãy của các mối quan hệ gia đình và xã hội. 

– Hệ quả của vấn đề: Khiến tâm hồn của người trẻ bị "nhiễm độc" ngày càng nặng, làm gia tăng những hành vi sai trái về đạo đức, pháp luật, những cảnh bạo lực; gia tăng khoảng cách giữa các mối quan hệ xã hội, thậm chí là các thế hệ trong gia đình. 

– Giải pháp:

+ Mỗi cá nhân cần loại bỏ lối sống ích kỉ, học cách quan tâm, yêu thương, chia sẻ với mọi người xung quanh nhiều hơn.

+ Gia đình cần quan tâm con trẻ hơn.

+ Nhà trường, xã hội cần tạo ra những hoạt động tích cực, hấp dẫn, ý nghĩa để thu hút các bạn trẻ nhiều hơn nhằm kích thích các bạn đóng góp, cống hiến nhiều hơn cho xã hội, góp phần bồi đắp lòng nhân ái, sự thấu hiểu và cảm thông.

* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. 


d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 1. 

Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc: Quận công Trịnh Duy Sản ra sức khuyên vua Lê Tương Dực tỉnh ngộ, rời xa sắc dục và dừng việc xây dựng Cửu Trùng Đài. 

Câu 2. 

Lời độc thoại được thể hiện qua lời thoại của vua Lê Tương Dực: Lão gàn quái! hoặc Có việc gì khẩn cấp?.

Câu 3. 

- HS chỉ ra những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực: cau mặt, nghĩ một lúc, nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ, rút kiếm.

- HS nhận xét, đánh giá những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực: 

+ Có tác dụng mô tả chân thực, cụ thể rõ nét hơn về nhân vật Lê Tương Dực. 

+ Thể hiện rõ diễn biến tâm lí của vua Lê Tương Dực trước những lời can gián của Trịnh Duy Sản (đi từ không ưa đến tức giận đến mức như muốn giết chết Trịnh Duy Sản).

Câu 4. 

- HS xác định được biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn: Liệt kê: Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời. 

- HS phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn văn: Khắc họa chân thực, cụ thể bối cảnh loạn lạc của đất nước ta lúc bấy giờ: Những cuộc khởi nghĩa xảy ra khắp nơi, nhân dân đói kém, loạn lạc, lầm than, bị hãm hiếp,...

Câu 5. 

- HS khái quát được bối cảnh xã hội lúc bấy giờ: Đất nước loạn lạc, nhân dân điêu đứng lầm than không chỉ vì giặc cỏ làm loạn khắp nơi, mà còn vì vua quan bỏ bê dân chúng, chấp mê bất ngộ, chỉ biết vơ vét, bắt ép dân chúng, ham mê sắc dục. (HS có thể trích dẫn đan xen những chi tiết trong tác phẩm để làm sâu sắc hơn câu trả lời của mình.)

- HS nhận xét được về vua Lê Tương Dực: Vua Lê Tương Dực là một vị hôn quân, nhu nhược và ích kỉ.

Bình đẳng giới là một trong những mục tiêu quan trọng của xã hội hiện đại, là nền tảng cho sự phát triển bền vững và công bằng. Vấn đề này không chỉ dừng lại ở những con số thống kê hay những báo cáo quốc tế mà còn hiện hữu trong từng gia đình, từng ngôi trường và từng cơ quan, nơi mà mỗi người dù là nam hay nữ đều có quyền được đối xử công bằng, được phát huy năng lực và được sống với đúng giá trị của bản thân mình.

Trước hết, cần khẳng định rằng bình đẳng giới không có nghĩa là giống nhau về mọi mặt mà là sự công bằng về cơ hội, về đối xử và về quyền lợi giữa nam và nữ. Trong xã hội xưa, tư tưởng "trọng nam khinh nữ" đã in sâu vào tiềm thức của nhiều thế hệ, khiến người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi. Họ bị giới hạn trong không gian bếp núc, không được học hành rộng mở, bị ràng buộc bởi những khuôn mẫu khắc nghiệt. Ngày nay, những định kiến ấy dần được xóa bỏ, phụ nữ đã vươn lên, khẳng định vị thế trong gia đình, xã hội và trên trường quốc tế. Họ không chỉ là những người mẹ, người vợ tần tảo mà còn là những nhà lãnh đạo, những nhà khoa học và những doanh nhân thành đạt.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách toàn diện, bình đẳng giới trên thực tế vẫn còn nhiều rào cản. Định kiến xã hội vẫn tồn tại một cách âm thầm và dai dẳng. Người ta vẫn dễ dàng mặc định rằng đàn ông là trụ cột kinh tế, còn phụ nữ phải gánh vác việc nhà; hay rằng những công việc đòi hỏi sức mạnh thể chất và tư duy lãnh đạo thì phù hợp với nam giới hơn. Những định kiến ấy vô hình tạo thành một "trần nhà thủy tinh" ngăn cản sự thăng tiến của phụ nữ. Ngoài ra, bạo lực gia đình, bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục hay sự khác biệt về thu nhập giữa nam và nữ vẫn là những vấn nạn cần được lên tiếng. Ngay cả ở những quốc gia phát triển, phụ nữ vẫn phải đối mặt với áp lực kép khi phải cân bằng giữa sự nghiệp và thiên chức làm mẹ, điều mà nam giới ít khi phải trải qua với cùng mức độ nặng nề.

Để giải quyết vấn đề này, cần có sự chung tay từ nhiều phía. Trước hết, mỗi người cần thay đổi nhận thức ngay từ trong suy nghĩ, không áp đặt những khuôn mẫu giới lên người khác và tôn trọng sự lựa chọn của mỗi cá nhân. Gia đình là nơi khởi đầu quan trọng, hãy nuôi dạy con cái với tinh thần bình đẳng, không phân biệt đồ chơi, màu sắc hay mơ ước cho con trai và con gái. Nhà trường và xã hội cần đẩy mạnh giáo dục giới tính và bình đẳng giới, xóa bỏ những cuốn sách hay những bài giảng mang định kiến. Các chính sách pháp luật cũng cần được thực thi nghiêm minh, bảo vệ quyền lợi của cả nam và nữ trong lao động, hôn nhân và mọi lĩnh vực của đời sống.

Bình đẳng giới không chỉ là quyền lợi của riêng phụ nữ mà là của cả cộng đồng. Khi nam giới được giải phóng khỏi áp lực phải là người duy nhất kiếm tiền và được tham gia nhiều hơn vào công việc gia đình, xã hội sẽ trở nên hài hòa hơn. Khi phụ nữ được tạo điều kiện để phát huy tối đa tiềm năng, đất nước sẽ có thêm những nguồn lực vô cùng quý giá. Vì vậy, bình đẳng giới là cuộc hành trình không chỉ vì một nửa thế giới mà vì cả nhân loại, hướng tới một tương lai nơi tất cả mọi người đều được sống với đúng con người mình, không bị gò bó bởi bất kỳ rào cản nào.

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.

  • Luận đề của văn bản: Bàn về giá trị nghệ thuật đặc sắc của chi tiết "cái bóng" trong việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, đồng thời làm rõ thông điệp tư tưởng mà tác giả Nguyễn Dữ gửi gắm qua chi tiết này.

Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo nào?

  • Theo người viết, tình huống truyện độc đáo là: Sau bao năm chinh chiến trở về, người chồng (Trương Sinh) vô cùng sung sướng muốn ôm ấp con thì đứa con lại không nhận cha và kể rằng "cha" của nó thường đến vào ban đêm nhưng không bao giờ bế nó. Lời nói ngây thơ của đứa trẻ cùng lòng ghen tuông mù quáng đã đẩy người vợ (Vũ Nương) vào tình thế oan khuất không thể chứng minh, buộc nàng phải tự vẫn để minh oan.

Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là gì?

  • Mục đích:
    • Giới thiệu và dẫn dắt người đọc vào vấn đề sẽ bàn luận.
    • Tạo sự chú ý và thúc đẩy sự tò mò cho người đọc về một tình huống truyện đặc sắc, độc đáo.
    • Làm cơ sở, tiền đề để từ đó triển khai phân tích vai trò của chi tiết "cái bóng" trong việc tạo nên tình huống này, cũng như các giá trị tư tưởng, nghệ thuật liên quan.

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết được trình bày khách quan và một chi tiết được trình bày chủ quan trong đoạn (2). Nhận xét về mối quan hệ giữa cách trình bày khách quan và cách trình bày chủ quan đó trong văn bản.

  • Chi tiết trình bày khách quan"Đó là chi tiết lấy từ “trò chơi soi bóng trên tường”. Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ." (Đoạn này mang tính miêu tả, kể lại một sự thực, một hiện tượng sinh hoạt dân gian có thật một cách trung tính).
  • Chi tiết trình bày chủ quan"Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản..." (Đoạn này thể hiện suy luận, cảm nhận, sự giải thích và lý giải của người viết về tâm lý nhân vật).
  • Nhận xét về mối quan hệ:
    • Cách trình bày khách quan và chủ quan trong văn bản có mối quan hệ bổ sung, gắn kết chặt chẽ với nhau.
    • Các chi tiết khách quan (sự thực về trò chơi dân gian) là cơ sở, là chất liệu thực tế để người viết dựa vào đó suy luận, phân tích, bày tỏ quan điểm chủ quan của mình (về suy nghĩ và tình cảm của nhân vật Vũ Nương).
    • Ngược lại, cách trình bày chủ quan giúp làm sáng tỏ và nâng cao ý nghĩa của các chi tiết khách quan, khám phá chiều sâu tư tưởng và nghệ thuật mà tác giả dân gian và Nguyễn Dữ đã cài cắm trong tác phẩm.

Câu 5. Từ văn bản, cho biết vì sao người viết lại cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc?

  • Người viết cho rằng chi tiết cái bóng đặc sắc vì:
    • Xuất phát từ lẽ tự nhiên, đời thường: Nó được bắt nguồn từ một trò chơi dân dã, phổ biến và rất đỗi quen thuộc trong cuộc sống (trò chơi soi bóng trên tường), tạo sự gần gũi và chân thực cho câu chuyện.
    • Là "cái cớ" để xây dựng một tình huống truyện độc đáo: Từ một chi tiết nhỏ nhặt, tác giả dân gian và Nguyễn Dữ đã khéo léo nâng lên thành yếu tố tạo nên toàn bộ mâu thuẫn và kịch tính cho truyện.
    • Thể hiện tài năng nghệ thuật của tác giả: Việc sử dụng chi tiết này thể hiện sự tài hoa, sâu sắc và cách kể chuyện tinh tế của người xưa trong việc tổ chức tình tiết.
    • Thể hiện chiều sâu tâm lý và tấm lòng nhân vật: Chi tiết cái bóng góp phần khắc họa nỗi nhớ chồng da diết, tình thương con sâu nặng và sự khéo léo của Vũ Nương trong việc vun vén hạnh phúc gia đình.
    • Không phải là yếu tố tạo nên "oan khiên": Người viết phản bác quan niệm gọi đó là "cái bóng oan khiên". Đặc sắc của nó nằm ở giá trị nghệ thuật và ở việc làm nổi bật thông điệp tố cáo thói ghen tuông mù quáng chứ không phải để đổ lỗi cho Vũ Nương.

Gọi số bộ quần áo mà phân xưởng phải may trong mỗi ngày theo kế hoạch là \(x\) (bộ quần áo)

Điều kiện \(x \in \mathbb{N} ; x < 900\)

Khi đó thời gian phân xưởng may xong \(900\) bộ quần áo theo kế hoạch là \(\frac{900}{x}\) (ngày)

Thực tế mỗi ngày may được \(x + 10\) (bộ quần áo) nên thời gian phân xưởng may xong \(900\) bộ quần áo là \(\frac{900}{x + 10}\) (ngày)

Do hoàn thành kế hoạch sớm hơn \(3\) (ngày) nên ta có phương trình:

\(\frac{900}{x} - \frac{900}{x + 10} = 3\)

\(900 \left(\right. x + 10 \left.\right) - 900 x = 3 x \left(\right. x + 10 \left.\right)\)

\(x^{2} + 10 x - 3 000 = 0\)

Ta có \(\Delta^{'} = 5^{2} - 1. \left(\right. - 3 000 \left.\right) = 3 025\)

Do Delta'>0 nên phương trình có hai nghiệm phân biệt \(x_{1} = \frac{- 5 + 55}{1} = 50\) (thoả mãn); \(x_{2} = \frac{- 5 - 55}{1} = - 60\) (không thoả mãn)

Vậy theo kế hoạch mỗi ngày phân xưởng phải may \(50\) bộ quần áo.

Gọi số người được xét nghiệm mỗi giờ theo kế hoạch: \(x\) (người), \(\left(\right. x \in \mathbb{N}^{*} \left.\right)\)

Khi đó, trên thực tế mỗi giờ xét nghiệm được \(x + 50\) (người)

Theo kế hoạch, thời gian xét nghiệm xong là \(\frac{1 000}{x}\) (giờ)

Trên thực tế, thời gian xét nghiệm xong: \(\frac{1 000}{x + 50}\) (giờ)

Do hoàn thành sớm hơn kế hoạch \(1\) ngày nên ta có phương trình

\(\frac{1 000}{x} - \frac{1 000}{x + 50} = 1\)

\(x^{2} + 50 x - 50 000\)

\(x = 200\) (tm) hoặc \(x = - 250\) (ktm)

Vậy theo kế hoạch, mỗi giờ thành phố Gia Nghĩa xét nghiệm được \(200\) người.

Gọi vận tốc của xe máy là \(x\) (km/h) (điều kiện: \(x > 0\)).

Khi đó vận tốc của ô tô là: \(x + 9\) (km/h).

Thời gian xe máy đi từ Cao Bằng đến Bảo Lạc là: \(\frac{135}{x}\) (giờ).

Thời gian ô tô đi từ Cao Bằng đến Bảo Lạc là: \(\frac{135}{x + 9}\) (giờ).

Vì ô tô đến Bảo lạc trước xe máy \(45\) phút \(= \frac{3}{4}\) giờ nên ta có phương trình:

\(\frac{135}{x} - \frac{135}{x + 9} = \frac{3}{4}\)

\(135.4 \left(\right. x + 9 \left.\right) - 135.4 x = 3 x \left(\right. x + 9 \left.\right)\)

\(540 \left(\right. x + 9 \left.\right) - 540 x = 3 x^{2} + 27 x\)

\(3 x^{2} + 27 x - 4 860 = 0\)

\(x^{2} + 9 x - 1 620 = 0\)

\(\left(\right. x - 36 \left.\right) \left(\right. x + 45 \left.\right) = 0\)

Phương trình có hai nghiệm phân biệt \(x = 36\) (tm); \(x = - 45\) (ktm).

Vậy vận tốc của xe máy là \(36\) km/h; vận tốc của ô tô là \(45\) km/h.

Đổi \(30\) phút \(= 0 , 5\) giờ

Gọi vận tốc ô tô dự định đi trên quãng đường \(A B\) là \(x\) (km/h), (\(x > 10\))

Thời gian dự định đi trên quãng đường \(A B\) là \(\frac{100}{x}\) (h)

Vận tốc thực tế ô tô đi là \(x - 10\) (km/h) 

Nên thời gian thực tế đi hết quãng đường \(A B\) là \(\frac{100}{x - 10}\) (h) 

Vì xe đến \(B\) chậm hơn dự định \(30\) phút \(= \frac{1}{2}\) (h) nên ta có phương trình:

\(\frac{100}{x - 10} - \frac{100}{x} = \frac{1}{2}\)

\(\frac{100 x - 100 \left(\right. x - 10 \left.\right)}{x \left(\right. x - 10 \left.\right)} = \frac{1}{2}\)

\(x^{2} - 10 x - 2 000 = 0\)

Ta có \(\Delta^{'} = 5^{2} + 2 000 = 2 025 > 0\),

\(\sqrt{\Delta} = 45\) nên phương trình có hai nghiệm phân biệt \(x_{1} = 5 + 45 = 50\) (tm); \(x_{2} = 5 - 45 = - 40\) (ktm).

Vậy vận tốc dự định là \(50\) km/h và thời gian dự định là \(\frac{100}{50} = 2\) giờ.

Gọi chiều rộng hình chữ nhật là \(x\) (m, điều kiện: \(x > 0\)).

Khi đó chiều dài hình chữ nhật là \(3 x\) (m).

Kích thước phần đất còn lại sau khi làm lối đi là \(x - 3\) (m); \(3 x - 3\) (m).

Theo bài diện tích đất còn lại là \(4 329\) m\(^{2}\) nên ta có phương trình:

\(\left(\right. x - 3 \left.\right) \left(\right. 3 x - 3 \left.\right) = 4 329\)

\(3 x^{2} - 3 x - 9 x + 9 = 4 329\)

\(3 x^{2} - 12 x - 4 320 = 0\)

\(x^{2} - 4 x - 1 440 = 0\)

\(\Delta^{'} = 4 + 1 440 = 1 444\) suy ra \(\sqrt{\Delta^{'}} = 38\)

Phương trình có hai nghiệm phân biệt:

\(x_{1} = \frac{2 + 38}{1} = 40\) (thỏa mãn); \(x_{2} = \frac{2 - 38}{1} = - 36\) (loại).

Vậy chiều rộng mảnh vườn là \(40\) m; chiều dài mảnh vườn là \(3.40 = 120\) m.

Gọi chiều rộng mảnh đất là \(x\) (m) (ĐK: \(x > 0\))

Chiều dài mảnh đất là \(x + 7\) (m).

Vì độ dài đường chéo của mảnh đất hình chữ nhật là \(13\) m nên ta có phương trình:

\(x^{2} + \left(\right. x + 7 \left.\right)^{2} = 1 3^{2}\)

\(x^{2} + x^{2} + 14 x + 49 = 169\)

\(2 x^{2} + 14 x - 120 = 0\)

\(x^{2} + 7 x - 60 = 0\)

Ta có \(\Delta = 7^{2} - 4. \left(\right. - 60 \left.\right) = 289 = 172 > 0\) nên phương trình có \(2\) nghiệm phân biệt:

\(x = \frac{- 7 + 17}{2} = 5\) (tm); \(x = \frac{- 7 - 17}{2} = - 12\) (ktm)

\(\Rightarrow\) Chiều rộng của mảnh đất là \(5\) m, chiều dài của mảnh đất là \(5 + 7 = 12\) m.

Vậy diện tích mảnh đất hình chữ nhật là \(S = 5.12 = 60\) (m\(^{2}\)).